Ung thư biểu mô tuyến vú thể ống tuyến không xâm lấn

Tác giả: Tham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh

Tìm hiểu chung

Ung thư biểu mô tuyến vú thể ống tuyến không xâm lấn là gì?

Ung thư biểu mô tuyến vú thể ống tuyến không xâm lấn (ductal carcinoma in situ – DCIS) là một tổn thương ác tính của vú, đặc trưng bởi tình trạng tăng sinh của các tế bào biểu mô ống tuyến ác tính, chưa xâm lấn qua lớp tế bào đáy.

DCIS được xem là dạng sớm nhất của ung thư vú. Cụm từ “không xâm lấn” trong tên gọi có nghĩa là sự tăng sinh của các tế bào bất thường bên trong ống dẫn sữa không lan rộng ra ngoài, nguy cơ di căn thấp.

Tình trạng này thường được phát hiện thông qua kết quả chụp nhũ ảnh – một phần của quá trình sàng lọc ung thư vú hoặc điều trị một khối u ở vú.

Mặc dù ung thư biểu mô tuyến vú thể ống tuyến không phải là trường hợp khẩn cấp nhưng đòi hỏi phái đánh giá và xem xét các lựa chọn điều trị phù hợp. Điều trị có thể bao gồm phẫu thuật bảo tồn kết hợp với xạ trị hoặc phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ vú.

Triệu chứng

Những dấu hiệu và triệu chứng ung thư biểu mô tuyến vú thể ống tuyến không xâm lấn

DCIS thường không gây ra bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào. Tuy nhiên, bạn vẫn có thể có một vài dấu hiệu sau:

Loại ung thư này thường được phát hiện trên kết quả chụp nhũ ảnh và xuất hiện dưới dạng các cụm vôi hóa nhỏ có hình dạng và kích thước không đều nhau.

Khi nào bạn nên đến gặp bác sĩ?

Nếu nhận thấy có thay đổi bất thường nào ở ngực, như xuất hiện khối u, da bị sần sùi, thô ráp hay tiết dịch lạ ở núm vú, bạn nên đến gặp bác sĩ ngay lập tức.

Bác sĩ thường khuyến cáo phụ nữ trên 40 tuổi nên khám sàng lọc ung thư vú định kỳ.

Nguyên nhân

Nguyên nhân ung thư biểu mô tuyến vú thể ống tuyến không xâm lấn là gì?

Nguyên nhân của ung thư biểu mô tuyến vú thể ống tuyến không xâm lấn vẫn chưa được biết rõ ràng. Các nhà nghiên cứu cho biết DCIS hình thành khi có đột biến gene xảy ra trong ADN của các tế bào ống tuyến (ống dẫn sữa từ các thùy tuyến vú ra miệng núm vú). Các đột biến gene khiến cho các tế bào trở nên tăng trưởng bất thường nhưng chưa có khả năng di chuyển ra ngoài vị trí ống tuyến.

ung thư biểu mô ống tuyến vú
Nguồn: cancer.org

Điều gì đã kích hoạt khiến cho tế bào phát triển bất thường và gây ra ung thư biểu mô tuyến vú thể ống tuyến? Đó vẫn là câu hỏi chưa có đáp án. Các yếu tố có thể góp phần gây ra bệnh lý này bao gồm lối sống, môi trường sống và gene di truyền.

Các yếu tố rủi ro có khả năng làm tăng nguy cơ mắc DCIS gồm:

  • Tuổi tác
  • Tiền sử bệnh từng có tăng sản tế bào mô vú lành tính
  • Tiền sử gia đình mắc ung thư vú
  • Chưa từng có thai
  • Sinh con đầu lòng sau 30 tuổi
  • Có kinh nguyệt lần đầu tiên trước 12 tuổi
  • Bắt đầu mãn kinh sau 55 tuổi
  • Đột biến gene làm tăng nguy cơ ung thư vú, chẳng hạn như đột biến xảy ra ở các gene BRCA1 và BRCA2

Chẩn đoán và điều trị

Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ.

Những kỹ thuật y tế nào giúp chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến vú thể ống tuyến không xâm lấn?

Xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh ở vú

DCIS thường được phát hiện trong khi chụp nhũ ảnh trong quá trình sàng lọc ung thư vú. Nếu kết quả chụp nhũ ảnh cho thấy các điểm đáng nghi như các đốm trắng, sáng (vi vôi hóa) nằm thành từng cụm hoặc có kích thước không đều nhau, bác sĩ sẽ đề nghị bạn thực hiện thêm xét nghiệm hình ảnh bổ sung.

Bạn có thể được chụp nhũ ảnh chẩn đoán, thực hiện với mức phóng đại cao hơn từ nhiều góc độ khác nhau. Phương pháp này giúp kiểm tra cả hai bên vú và xem xét kỹ hơn các nốt vi vôi hóa để đánh giá chúng có nguy hiểm hay không.

Nếu vẫn cần xét nghiệm thêm, bác sĩ sẽ đề nghị làm siêu âmsinh thiết vú.

Sinh thiết vú

Bác sĩ sẽ sử dụng một cây kim chuyên dụng đưa vào trong vị trí đích để lấy mẫu mô ra ngoài. Đôi khi, sinh thiết được thực hiện dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc bằng tia X (sinh thiết dưới sự hướng dẫn của quang tuyến). Mẫu mô sau đó được gửi đến phòng thí nghiệm để phân tích.

Các chuyên gia sẽ kiểm tra mẫu mô để xác định có tế bào bất thường hay không. Nếu có thì mức độ “hung hăng” của những tế bào này như thế nào.

Những phương pháp điều trị ung thư biểu mô tuyến vú thể ống tuyến không xâm lấn

Nếu kết quả sinh thiết xác nhận có tế bào ung thư ở vú, lựa chọn điều trị sẽ bao gồm:

  • Phẫu thuật cắt bỏ và xạ trị sau phẫu thuật. Đây là phương pháp điều trị phổ biến nhất cho DCIS. Bác sĩ phẫu thuật sẽ cắt bỏ tất cả tế bào ung thư cùng với một ít mô khỏe mạnh ở xung quanh, giáp ranh với tế bào phát triển bất thường. Điều này giúp đảm bảo tất cả tế bào ung thư đều được loại bỏ. Lượng mô bị cắt bỏ tùy thuộc vào kích thước và vị trí của tế bào ung thư.
  • Xạ trị. Một phương pháp điều trị ung thư phổ biến, thường thực hiện sau khi phẫu thuật cắt bỏ tế bào ung thư. Sự kết hợp này giúp tiêu diệt triệt để các tế bào bất thường, giảm nguy cơ ung thư tái phát.
  • Phẫu thuật cắt bỏ vú. Phẫu thuật này sẽ cắt bỏ toàn bộ phần vú, thực hiện khi DCIS đã phát triển lớn hoặc ở khắp vú. Sau khi cắt bỏ vú, người bệnh không cần thực hiện xạ trị.

Mỗi trường hợp bệnh đều có những đặc điểm khác nhau. Do đó, bác sĩ sẽ quyết định phương pháp điều trị phù hợp nhất cho từng người bệnh.

Sau khi điều trị DCIS, bác sĩ có thể chỉ định sử dụng thuốc tamoxifen. Ở những phụ nữ mãn kinh, họ sẽ kê đơn thuốc ức chế aromatase. Các thuốc này giúp giảm bớt nguy cơ tái phát DCIS hoặc một loại ung thư khác phát triển ở vú. Nếu được chỉ định, thuốc thường được dùng trong 5 năm sau khi phẫu thuật.

Tiên lượng

Tiên lượng cho người bệnh ung thư biểu mô tuyến vú thể ống tuyến không xâm lấn như thế nào?

Do đây là trường hợp ung thư không xâm lấn, tức là các tế bào ung thư chỉ xuất hiện ở một vị trí mà không lan rộng nên bệnh có thể được kiểm soát và chữa khỏi nếu điều trị thích hợp. Hầu hết người bệnh đều nhận được kết quả tốt sau khi điều trị.

Tuy nhiên, những người từng bị DCIS vẫn có nguy cơ hình thành loại ung thư vú khác cao hơn so với người chưa từng mắc bệnh, kể cả khi đã điều trị thành công. Do đó, bạn nên duy trì thói quen kiểm tra vú và chụp nhũ ảnh định kỳ để kịp thời phát hiện những bất thường ở vú.

Hello Bacsi không đưa ra các lời khuyên, chẩn đoán hay phương pháp điều trị y khoa.

Bạn có thể quan tâm đến chủ đề:

Chia sẻ ngay! :

Ngày đăng: Tháng Ba 23, 2020 | Lần cập nhật cuối: Tháng Ba 23, 2020

Bài có nhiều người đọc