Có thể bạn không biết mình đã mắc virus herpes simplex

Tác giả: Tham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh

Nhiễm virus herpes simplex, thường được biết là herpes, có thể do type I hoặc type II. Type I lây nhiễm chính qua tiếp xúc miệng – miệng gây triệu chứng trong hay quanh miệng (herpes miệng). Type II hầu như lây truyền qua đường tình dục, gây nhiễm trùng ở vùng hậu môn sinh dục (herpes sinh dục). Type I cũng truyền đến vùng sinh dục do tiếp xúc giữa miệng và bộ phận sinh dục nhiễm virus herpes.

Hầu hết những người bị herpes miệng và herpes sinh dục đều không có triệu chứng nghiêm trọng nhưng có thể bị mụn rộp đau hay loét ở vùng bị nhiễm.

Virus herpes simplex type I ( HSV-1)

Là một bệnh lây nhiễm nhanh và phổ biến trên toàn thế giới. Hầu hết ca nhiễm nhiễm HSV-1 xảy ra từ nhỏ và người bệnh sẽ “sống chung” với HSV-1 trọn đời. HSV-1 gây ra herpes miệng là chính (nhiễm trong hoặc quanh miệng) nhưng một số ít HSV-1 là herpes sinh dục (nhiễm virus ở vùng hậu môn-sinh dục).

1. Herpes simplex type I phổ biến như thế nào?

Virus herpes simplex

Năm 2012, gần 3,7 tỉ người dưới 50 tuổi hoặc 67% dân số mang HSV-1. Tỷ lệ nhiễm cao nhất ở châu Phi (87%) và thấp nhất ở châu Mỹ (40-50%).

Có 140 triệu người độ tuổi 15-49 nhiễm HSV-1 sinh dục trên toàn thế giới nhưng tỷ lệ này thay đổi theo vùng. Hầu hết người bị nhiễm HSV-1 sinh dục ở châu Mỹ, châu Âu và Tây Thái Bình Dương. Trong các vùng khác, ví dụ châu Phi, hầu hết HSV-1 bị nhiễm từ tuổi nhỏ, ở độ tuổi chưa hoạt động tình dục.

2. Dấu hiệu và triệu chứng nhiễm virus herpes type I (HSV-1)

Virus herpes simplex

Herpes miệng hầu như không có triệu chứng. Phần lớn người bị nhiễm HSV-1 không biết mình bị bệnh. Triệu chứng của herpes miệng bao gồm vết loét miệng hoặc mụn rộp đau ở trong hay xung quanh miệng. Người bị nhiễm sẽ thường cảm thấy ngứa ngáy, bỏng rát ở quanh miệng trước khi xuất hiện mụn rộp. Sau lần xuất hiện đầu tiên, mụn rộp hoặc vết loét có thể xuất hiện theo chu kỳ. Chu kỳ dài hay ngắn khác nhau giữa mỗi người.

Herpes sinh dục do HSV-1 gây ra thường không có triệu chứng hoặc có thể có triệu chứng mức trung bình mà không được ghi nhận lại. Khi triệu chứng bắt đầu xuất hiện, bệnh nhân sẽ nhận thấy 1 hay nhiều mụn rộp hoặc vết loét ở vùng hậu môn hoặc bộ phận sinh dục. Sau đợt đầu tiên bị herpes sinh dục, triệu chứng có thể tái phát, nhưng herpes sinh dục do HSV-1 gây ra thường không tái phát thường xuyên.

3. Đường lây nhiễm của virus herpes type I (HSV-1)

HSV-1 lây nhiễm chính qua đường miệng, tiếp xúc với mụn nước, nước bọt và bề mặt trong hoặc xung quanh miệng. HSV-1 có thể lây nhiễm đến vùng sinh dục thông qua quan hệ tình dục bằng miệng.

HSV-1 có thể nhiễm từ miệng hoặc bề mặt da nhìn vẫn bình thường và không có triệu chứng gì. Nguy cơ lây nhiễm cao nhất là khi có các vết rộp hoặc loét.

Người đã bị nhiễm herpes miệng do HSV-1 thường không nhiễm HSV-1 sinh dục hậu môn.

Trong một vài trường hợp rất hiếm, HSV-1 có thể truyền từ mẹ nhiễm herpes sinh dục sang con trong khi sinh.

4. Các trường hợp phức tạp do virus herpes type I gây ra

♦ Bệnh nghiêm trọng

Ở người suy giảm miễn dịch như người bị nhiễm HIV, HSV-1 có thể gây ra các triệu chứng nghiêm trọng hơn và thường tái phát hơn. Hiếm gặp hơn nữa, nhiễm HSV-1 có thể dẫn đến viêm não hoặc viêm giác mạc (nhiễm virus HPV-1 ở mắt).

♦ Herpes sơ sinh

Herpes sơ sinh có thể xảy ra khi bé sơ sinh tiếp xúc với HSV trong ống sinh dục lúc chào đời. Đây là tình trạng hiếm gặp, xảy ra khoảng 10 bé trên 100.000 trẻ mới sinh trên toàn thế giới nhưng có thể dẫn đến các di chứng não hoặc tử vong. Nguy cơ của herpes sơ sinh cao nhất khi người mẹ nhiễm HSV lần đầu tiên vào 3 tháng cuối thai kỳ. Phụ nữ đã mắc HSV trước khi mang thai có nguy cơ rất thấp lây HSV cho bé sơ sinh.

5. Tác động tâm lý xã hội

Herpes miệng tái phát thường gây khó chịu cho người mắc. Hơn nữa, nó có thể dẫn đến các phiền muộn và kỳ thị của xã hội. Với herpes sinh dục, những yếu tố này có tác động quan trọng lên chất lượng cuộc sống và quan hệ tình dục.

6. Chữa trị virus herpes type I

Thuốc chống virus như acyclovir, famciclovir và valacyclovir là các thuốc có tác dụng cho người bị nhiễm HSV. Chúng giúp giảm mức độ nghiêm trọng và thường xuyên của các triệu chứng nhưng không thể chữa khỏi bệnh.

7. Phòng ngừa virus herpes type I

Virus herpes simplex

HSV-1 lây lan chủ yếu trong đợt bùng phát của herpes miệng nhưng cũng có thể lây khi không có triệu chứng. Người có các triệu chứng của herpes miệng nên tránh tiếp xúc bằng miệng với người khác hoặc chia sẻ các đồ vật đã tiếp xúc với nước bọt. Họ cũng nên bỏ sinh hoạt tình dục qua đường miệng để tránh lây herpes đến vùng sinh dục của bạn tình. Các cá nhân đang có các triệu chứng của herpes sinh dục không nên sinh hoạt tình dục.

Người đã mắc virus HSV-1 không gặp nguy cơ mắc thêm HSV-1 nhưng họ vẫn có thể nhiễm HSV-2.

Việc sử dụng bao cao su đúng cách và thường xuyên giúp phòng ngừa sự lây truyền của herpes sinh dục. Dù sao đi nữa, bao cao su chỉ có thể giảm nguy cơ lây nhiễm vì herpes sinh dục có thể lây truyền ở những vùng không được che phủ bởi bao cao su.

Phụ nữ mang thai có các triệu chứng của herpes sinh dục nên báo cho bác sĩ khi thăm khám định kỳ. Phòng ngừa nhiễm herpes sinh dục đặc biệt quan trọng với phụ nữ vào 3 tháng cuối thai kỳ vì đó là thời gian mà nguy cơ bệnh não sơ sinh do herpes cao nhất.

Có nhiều nghiên cứu vaccine HSV đang được tiến hành để giúp cộng đồng khống chế căn bệnh này nhưng vẫn chưa có loại vaccine nào được chính thức sử dụng.

Virus herpes simplex type II

HSV-2 là một bệnh lây qua đường tình dục hàng đầu gây ra herpes sinh dục trên toàn thế giới. Bên cạnh HSV-1, HSV-2 là nguyên nhân chính của herpes sinh dục. Người bị nhiễm HSV-2 sẽ phải chung sống với virus trọn đời không thể chữa khỏi.

1. Herpes simplex type II phổ biến như thế nào?

Virus herpes simplex

Gần 417 triệu người trên toàn thế giới đang sống với virus. Tỷ lệ của nhiễm HSV-2 cao nhất ở châu Phi (31,5%), theo sau là châu Mỹ (14,4%).

Phụ nữ nhiễm HSV-2 nhiều hơn nam giới. Trong năm 2012, gần 267 triệu phụ nữ và 150 triệu nam giới bị nhiễm bệnh, bởi vì sự lây nhiễm từ nam sang nữ qua đường tình dục cao hơn từ nữ sang nam.

2. Dấu hiệu và triệu chứng nhiễm virus herpes type II (HSV-2)

Virus herpes simplex

Herpes sinh dục thường không có triệu chứng hoặc triệu chứng trung bình không được ghi nhận lại. Hầu hết người nhiễm không biết mình đã nhiễm virus. Khoảng 10-20% người nhiễm HSV-2 đã bị herpes sinh dục trước đó.

Khi triệu chứng xảy ra, herpes sinh dục thường có một hay nhiều mụn rộp hoặc vết loét ở vùng hậu môn, sinh dục. Các triệu chứng khác bao gồm sốt, đau nhức người và sưng hạch lympho (sưng hạch bạch huyết).

Sau đợt nhiễm herpes sinh dục HSV-2 đầu tiên, các triệu chứng khi tái phát xảy ra thường xuyên nhưng không nghiêm trọng như đợt đầu. Mức độ tái phát có xu hướng giảm theo thời gian. Người đã nhiễm HSV-2 có thể thấy ngứa ngáy, những cơn đau ngắn ở chân, hông, mông trước khi xuất hiện loét sinh dục.

3. Đường lây nhiễm của virus herpes type II (HSV-2)

Virus herpes simplex

HSV-2 lây truyền chính qua đường tình dục, khi tiếp xúc với các bề mặt vùng sinh dục, da, mụn rộp hoặc dịch của người đã nhiễm virus. HSV-2 có thể lây từ da vùng sinh dục hoặc vùng hậu môn mà nhìn vẫn bình thường. Virus này vẫn có thể lây truyền ngay khi không có triệu chứng xuất hiện.

Trong trường hợp hiếm gặp, HSV-2 có thể truyền từ mẹ sang con trong lúc sinh.

4. Các trường hợp phức tạp gây ra bởi virus herpes type II

♦ HSV-2 và HIV

Cả 2 loại virus đều đã được chứng minh có ảnh hưởng đến nhau. HSV-2 làm tăng nguy cơ mắc HIV gấp 3 lần. Người mắc cả HIV và HSV-2 thường lây HIV cho người khác. HSV-2 là một trong những bệnh nhiễm phổ biến nhất của người bị HIV, 60-90% người nhiễm HIV cũng nhiễm HSV-2.

Nhiễm HSV-2 ở người nhiễm HIV (và những cá nhân suy giảm miễn dịch khác) thường có triệu chứng bộc phát dữ dội hơn và thường xuyên tái phát hơn. Đối với người đã sang giai đoạn AIDS, HSV-2 có thể gây nên những triệu chứng nghiêm trọng nhưng hiếm gặp như viêm màng não, viêm thực quản, viêm gan, viêm phổi, hoại tử võng mạc hoặc nhiễm trùng lan rộng.

♦ Bệnh não herpes sơ sinh

Xảy ra khi bé sơ sinh tiếp xúc với HSV trong đường sinh dục lúc chào đời. Đây là một trường hợp hiếm gặp, xảy ra khoảng 10 trên 100.000 trẻ mới sinh toàn cầu nhưng có thể dẫn tới di chứng não hoặc tử vong. Nguy cơ của herpes não sơ sinh là cao nhất khi phụ nữ nhiễm HSV lần đầu vào cuối thai kỳ. Phụ nữ bị herpes sinh dục trước khi mang thai có nguy cơ rất thấp truyền HSV cho con.

5. Ảnh hưởng tâm lý xã hội

Các triệu chứng tái phát của herpes sinh dục có thể đau đớn và dẫn đến kỳ thị của xã hội. Những điều này có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng cuộc sống và mối quan hệ tình dục của người bệnh.

6. Chữa trị virus herpes type II

Thuốc chống virus như acyclovir, famciclovir và valacyclovir là các thuốc có tác dụng cho người bị nhiễm virus herpes. Chúng giúp giảm mức độ nghiêm trọng và thường xuyên của các triệu chứng nhưng không thể chữa khỏi bệnh.

7. Phòng ngừa virus herpes type II (HSV-2)

Virus herpes simplex

Các cá nhân nhiễm HSV sinh dục nên ngưng hoạt động tình dục trong khi triệu chứng của herpes sinh dục đang xảy ra. HSV-2 lây nhiễm mạnh nhất trong đợt bùng phát của mụn rộp, nhưng cũng có thể lây khi không có triệu chứng.

Sử dụng bao cao su thường xuyên và đúng cách có thể giúp giảm nguy cơ lây lan herpes sinh dục nhưng không thể bảo vệ bạn hoặc bạn tình một cách triệt để bởi vì HSV xuất hiện nhiều ở các vùng không được bao cao su bao phủ. Cắt bao quy đầu ở nam có thể bảo vệ một phần khỏi HSV-2, HIV và HPV.

Phụ nữ mang thai có các triệu chứng của herpes sinh dục nên báo cho bác sĩ thăm khám định kỳ. Phòng ngừa nhiễm herpes sinh dục là đặc biệt quan trọng cho phụ nữ vào 3 tháng cuối thai kỳ vì đó là thời gian mà nguy cơ bệnh não sơ sinh do herpes cao nhất.

Y học đang nghiên cứu các loại vaccine chống lại HSV type 2 hoặc thuốc đặt âm đạo, hậu môn để phòng ngừa các bệnh nhiễm lây truyền qua đường tình dục.

Kiều Tuấn Anh / HELLO BACSI

Bạn có thể quan tâm đến chủ đề:

Chia sẻ ngay! :

Ngày đăng: Tháng Bảy 23, 2019 | Lần cập nhật cuối: Tháng Mười Hai 16, 2019

Nguồn tham khảo