Mẹ nên dùng thuốc kháng sinh cho con như thế nào?

Tác giả: Tham vấn y khoa: Lê Thị Mỹ Duyên

Thuốc kháng sinh chỉ có hiệu quả với một số bệnh. Việc lạm dụng quá mức là nguyên nhân dẫn đến tình trạng kháng thuốc.

Tình trạng kháng thuốc kháng sinh ngày càng nghiêm trọng. Là bậc cha mẹ thông thái, bạn cần nắm được cách sử dụng kháng sinh cho chính mình và gia đình như thế nào?

Cách sử dụng thuốc kháng sinh

Với những trường hợp nhiễm trùng nặng, kháng sinh thường được sử dụng bằng đường tiêm tĩnh mạch (thỉnh thoảng có tiêm bắp). Khi nhiễm trùng đã được kiểm soát, có thể dùng kháng sinh bằng đường uống. Đối với những trường hợp nhiễm trùng không quá nặng có thể sử dụng bằng đường uống ngay từ đầu.

Thuốc kháng sinh cần được duy trì cho đến khi vi khuẩn được đào thải khỏi cơ thể, có thể sẽ mất vài ngày sau khi triệu chứng biến mất. Vì vậy,  người bệnh phải dùng kháng sinh trong suốt thời gian điều trị cho dù họ có triệu chứng hay không. Thời gian điều trị của đa số kháng sinh ít khi dưới 5 ngày ngoại trừ những trường hợp nhiễm trùng tiểu không triệu chứng. Ngưng điều trị quá sớm có thể khiến nhiễm trùng tái phát hoặc sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc.

Bác sĩ, y tá hay dược sĩ nên giải thích cách sử dụng kháng sinh và những tác dụng phụ có thể có cho bé. Tùy từng loại mà kháng sinh có thể được uống khi đói hay sau khi ăn. Các kháng sinh có thể tương tác với những loại thuốc bệnh nhân đang dùng, chúng có thể làm giảm hiệu quả hoặc tăng tác dụng phụ của kháng sinh hay thuốc khác. Một số kháng sinh có thể làm da nhạy cảm với ánh sáng mặt trời.

Những thuốc kháng sinh khi được sử dụng để phòng ngừa nhiễm trùng được gọi là kháng sinh dự phòng. Có thể sử dụng kháng sinh dự phòng cho người tiếp xúc với người bị viêm màng não để ngăn ngừa viêm màng não phát triển. Những người có bất thường van tim hay có van tim nhân tạo phải sử dụng kháng sinh dự phòng trước khi làm các thủ thuật nha khoa hay phẫu thuật để ngăn ngừa viêm nội tâm mạc nhiễm trùng. Những người trải qua phẫu thuật có nguy cơ lây nhiễm (như phẫu thuật chỉnh hình hay phẫu thuật ruột) phải dùng kháng sinh dự phòng ngay trước khi phẫu thuật.

Kháng sinh cũng được dùng cho những người có hệ miễn dịch suy yếu, ví dụ người mắc bệnh bạch cầu, người đang hóa trị liệu ung thư hoặc những người mắc AIDS. Những đối tượng này có khả năng dễ bị nhiễm trùng nặng, vì vậy cần sử dụng kháng sinh trong một thời gian dài.

Điều trị bằng kháng sinh tại nhà

Thông thường, những kháng sinh đường uống có thời gian điều trị dài không gây nhiều khó khăn trong điều trị. Tuy nhiên, với những nhiễm trùng nặng như viêm tủy xương hay viêm nội tâm mạc đòi hỏi phải sử dụng kháng sinh đường tĩnh mạch trong thời gian 4−6 tuần. Nếu người bệnh không có điều kiện điều trị tại bệnh viện và thể trạng đã tương đối ổn, có thể sử dụng kháng sinh tĩnh mạch tại nhà.

Khi cần sử dụng kháng sinh trong thời gian dài, những ống thông tĩnh mạch ngắn được đưa vào bên trong tĩnh mạch nhỏ ở cánh tay và bàn tay có thể không đem lại hiệu quả mong muốn. Những ống thông tĩnh mạch này chỉ được đặt tối đa trong vòng 3 ngày. Thay vào đó, một loại ống thông tĩnh mạch đặc biệt có thể được đưa vào bên trong tĩnh mạch lớn trung tâm, thường là ở cổ hoặc ngực

Nếu kháng sinh được sử dụng tại nhà thông qua một ống thông tĩnh mạch, nguy cơ phát triển xảy ra nhiễm trùng tại vị trí đặt ống thông sẽ tăng lên. Đau, đỏ và mủ tại chỗ ống thông hoặc sốt, ớn lạnh có thể cho thấy tình trạng nhiễm trùng tại chỗ đặt.

Tác dụng phụ và phản ứng dị ứng

Các tác dụng phụ thường gặp của kháng sinh bao gồm đau bụng, tiêu chảy và ở phụ nữ có thể nhiễm trùng âm đạo. Một số tác dụng phụ nghiêm trọng hơn và tùy thuộc vào kháng sinh, có thể làm suy giảm chức năng gan, thận, tủy xương hoặc các cơ quan khác.

Một số người sử dụng kháng sinh, đặc biệt là cephalosporin, clindamycin hoặc fluoroquinonlones gây viêm đại tràng, viêm ở đoạn ruột già. Loại viêm này là kết quả của độc tố vi khuẩn clostridium difficle sản xuất, có khả năng đề kháng với nhiều thuốc kháng sinh và phát triển trong ruột không kiểm soát khi các vi khuẩn thường trú trong ruột bị các kháng sinh tiêu diệt.

Thuốc kháng sinh có thể gây ra các phản ứng dị ứng. Các dị ứng nhẹ có thể là phát ban, ngứa hoặc khò khè. Phản ứng dị ứng nặng (phản vệ) có thể đe dọa tính mạng và bao gồm phù nề họng, ngưng thở và tụt huyết áp. Nhiều người nhầm lẫn giữa tác dụng và phản ứng dị ứng với kháng sinh.

Với trường hợp dị ứng thật sự thì nhất định không nên sử dụng thuốc kháng sinh, với những trường hợp có những tác dụng phụ nếu ở mức độ nhẹ, bác sĩ thậm chỉ có thể cân nhắc cho bệnh nhân tiếp tục sử dụng kháng sinh đó. Vì vậy sự phân biệt này rất quan trọng. Tuy nhiên, các bác sĩ có thể xác định ý nghĩa của bất kỳ triệu chứng khó chịu nào của bệnh nhân khi dùng kháng sinh.

Bất cứ khi nào sử dụng kháng sinh, người bệnh cần tìm hiểu rõ để tránh mắc phải những trường hợp dị ứng đáng tiếc xảy ra. Hy vọng những thông tin trên sẽ giúp ích nhiều cho bạn.

Bạn có thể quan tâm đến chủ đề:

Chia sẻ ngay! :

Ngày đăng: Tháng Tư 30, 2017 | Lần cập nhật cuối: Tháng Mười Hai 10, 2019

Nguồn tham khảo
Bài có nhiều người đọc