Bó bột

Tham vấn y khoa: | Tác giả:

Update Date 24/04/2020
Chia sẻ ngay!

Tìm hiểu chung

Bó bột là gì?

Sau khi xương bị gãy, vị trí xương này cần được nghỉ ngơi và hỗ trợ đúng cách để lành lại. Bác sĩ chỉnh hình thường dùng phương pháp bó bột để bảo vệ vị trí xương bị tổn thương. Đây là phương pháp nhằm bất động xương gãy, giữ cho xương tránh di chuyển, thúc đẩy quá trình liền xương và hồi phục phần mềm, ngăn ngừa hoặc giảm các cơn co thắt cơ bắp, hạn chế tổn thương thêm. Một số bác sĩ có thể kết hợp bó bột và nẹp nếu người bệnh gặp chấn thương hoặc có phẫu thuật về cả xương và gân, khớp.

Bó bột có nhiều kiểu, hình dạng và kích cỡ nhưng 2 loại vật liệu phổ biến nhất được sử dụng là thạch cao (màu trắng) và sợi thủy tinh (có nhiều màu sắc, hoa văn và kiểu dáng). Bên trong có lót bông và các vật liệu tổng hợp khác nhằm tạo độ mềm mại, hỗ trợ làm lớp đệm xung quanh các khu vực xương như cổ tay hoặc khuỷu tay. Dưới lớp bột bằng sợi thủy tinh thường có lớp lót chống thấm đặc biệt phòng trường hợp bị ướt. 

Tuy có thể khiến người bệnh không thoải mái và thậm chí có phần cồng kềnh, bó bột lại là phương pháp đơn giản và hiệu quả trong điều trị gãy xương.

Khi nào bạn cần thực hiện bó bột?

Hầu hết các trường hợp gãy, rạn nứt xương nhẹ và không phải vị trí nguy hiểm thì đều có thể thực hiện bó bột. Bên cạnh đó, kỹ thuật này cũng áp dụng cho người sau phẫu thuật chỉnh hình. Đối với trường hợp chấn thương, bác sĩ có thể dùng nẹp để giảm sưng trước khi bó bột.

Trong quá trình sử dụng cần phải thay bột mới vì vùng bị thương sẽ giảm sưng, khiến vị trí bó bột không còn vừa vặn. Trong trường hợp đó có thể dùng nẹp thay thế bó bột để giúp người bệnh thoải mái, linh hoạt hơn.

Điều cần thận trọng

Bó bột có nguy hiểm không?

Nhìn chung, bó bột là kỹ thuật phổ biến và hiệu quả nhưng cần tuân thủ các nguyên tắc nghiêm ngặt nếu không có thể để lại tai biến cho người bệnh. Nguyên nhân tai biến của bó bột có thể khách quan (tổn thương từ đầu) hoặc do sự thiếu hiểu biết và cẩn trọng của y bác sĩ thực hiện.

Tai biến của bó bột có 3 loại:

Tai biến tức thì

  • Choáng (sốc) do đau đớn trong quá trình nắn, bó bột
  • Sốc phản vệ do thuốc tê, thuốc mê
  • Co thắt khí phế quản, hội chứng xâm nhập hoặc hiện tượng trào ngược khi người bệnh gây mê, ngừng thở, ngừng tim dẫn đến tử vong

Tai biến sớm

  • Tổn thương mạch máu, thần kinh. Ở chi trên có thể gặp tổn thương động mạch cánh tay, thần kinh giữa, thần kinh quay, thần kinh trụ, đám rối thần kinh cánh tay. Ở chi dưới có thể gặp ở động mạch khoeo, động mạch chày sau, thần kinh mác chung… (nhưng hiếm xảy ra).
  • Xương chọc ra gây gãy hở thứ phát. Ban đầu là gãy kín nhưng do thiếu cẩn thận hoặc động tác vận chuyển, kéo nắn thô bạo có thể làm đầu xương nhọn chọc thủng da gây gãy hở.
  • Gãy thêm xương, đặc biệt với người bệnh cao tuổi và người có bệnh lý về xương.
  • Phù nề, rối loạn dinh dưỡng, hội chứng chèn ép khoang cấp gây hoại tử chi có thể xảy ra.
  • Chấn thương tủy sống, liệt tủy

Tai biến muộn

  • Rối loạn dinh dưỡng bán cấp và rối loạn dinh dưỡng từ từ dẫn đến sưng nề kéo dài, cứng khớp, ảnh hưởng đến cơ năng của chi.
  • Thiếu máu bán cấp và mạn tính, gây xơ hóa các cơ, không còn độ đàn hồi – biểu hiện của hội chứng Volkmann, Sudeck (loạn dưỡng giao cảm phản xạ)…
  • Can lệch, khớp giả do kỹ thuật nắn không tốt, bất động không đúng quy cách, do tuổi cao, không được tư vấn về chế độ ăn uống cũng như hướng dẫn cách tập trong và sau thời gian mang bột…
  • Viêm xương do gãy xương hở, tụ máu nhiễm trùng, loét do tì đè…

Quy trình thực hiện

Bó bột gãy chân

Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ.

Trước khi thực hiện

Người bệnh sẽ được thăm khám kỹ trước khi bó bột nhằm hạn chế tối đa các tai biến. Trong đó, người bệnh được đo mạch, huyết áp, kiểm tra dấu hiệu mất máu, kiểm tra tri giác (dựa trên thang điểm Glasgow), nhịp thở.

Ngoài ra, người bệnh cũng sẽ được kiểm tra:

  • Các rối loạn cơ tròn (khi gãy cột sống) để phòng tổn thương tủy
  • Các tổn thương phối hợp
  • Các tổn thương ở các tạng khác: sọ não (tri giác), ngực (khó thở, rối loạn nhịp thở), bụng (đau bụng, chướng bụng, bí trung đại tiện…), tiết niệu (tiểu ra máu, tiểu tiện không tự chủ được…)
  • Tổn thương ở các chi khác

Trong khi thực hiện

Trước khi mang bột, vùng tổn thương sẽ được băng thun vớ stockinette (tất lót bó bột). Sau đó, một lớp đệm làm bằng bông hoặc một chất liệu mềm khác được quấn quanh để tăng cường bảo vệ da và tạo độ đàn hồi, hỗ trợ quá trình hồi phục.

Bó bột thạch cao có dạng dải hoặc cuộn được làm ẩm và quấn ngoài lớp đệm. Vật liệu thạch cao được làm từ vải muslin được xử lý bằng tinh bột hoặc dextrose và canxi sulfate. Tương tự như thạch cao, vật liệu sợi thủy tinh cũng có dạng cuộn và được làm ẩm trước khi mang cho người bệnh.

Sau khi thực hiện

Sau khi hoàn thành quá trình bó bột, bột sẽ bắt đầu khô trong khoảng 10-15 phút. Nhiệt độ của da có thể tăng lên khi thạch cao khô vì phản ứng hóa học xảy ra, thường mất từ ​​1-2 ngày để lớp bột cứng hoàn toàn. Người bệnh phải cẩn thận trong giai đoạn này vì thạch cao có thể bị vỡ hoặc nứt. Khi bột thạch cao đã khô, lớp bó sẽ mịn màng, có màu trắng. Đối với vật liệu sợi thủy tinh, lớp bó sẽ thô ráp hơn.

Kết quả của kỹ thuật

Tháo bột sau khi bó bột đủ thời gian

Kết quả của bó bột là gì?

Trong khoảng 72 giờ đầu sau khi bó bột, người bệnh sẽ có cảm giác chật chội, căng tức phần chi bó bột do hiện tượng sưng nề tăng lên làm cho bột có xu hướng chặt lại, cần phải thông báo cho bác sĩ để nới bột kịp thời, tránh dẫn đến tình trạng chèn ép bột.

Người bệnh nên quay lại bệnh viện nếu sau khi bó bột và nẹp, vùng thương tổn có cảm giác tê hoặc ngứa ran, châm chích. Bên cạnh đó, những trường hợp sau cũng cần trợ giúp từ y tế:

  • Sốt
  • Ớn lạnh
  • Da nhợt nhạt hoặc có tông màu hơi xanh
  • Cảm giác đau, sưng nhiều hơn
  • Rỉ dịch, có mùi hôi từ chỗ bó bột
  • Lớp bột bị ướt hoặc bẩn
  • Có vết loét, mụn nước hoặc phát ban bên dưới lớp bột
  • Giảm khả năng vận động các ngón tay, ngón chân

Quá trình bó bột xương gãy cần nhiều thời gian, có thể là vài tuần, vài tháng để phục hồi tổn thương và xương liền lại. Ban đầu, người bệnh có thể xuất hiện các cơn đau nhưng hết đau chưa phải là xương đã liền chắc. Do đó, chỉ được tháo bột khi xương đã liền vững chắc và do bác sĩ chuyên khoa thực hiện. Người bệnh tuyệt đối không được tự ý tháo bột kể cả khi thấy các dấu hiệu liền xương vì nếu tự ý tháo bột có thể gây tổn thương da, hoặc xương không liền nếu chưa đủ thời gian bó bột.

Bác sĩ sẽ chỉ định tháo gỡ lớp bột bằng 1 loại cưa đặc biệt khi xương đã đủ thời gian lành. Loại cưa này có thể cắt xuyên qua các lớp bột mà không làm tổn thương vùng da bên dưới. Khi cưa đến lớp đệm bảo vệ và lớp stockinette, bác sĩ sẽ dùng kéo để gỡ bỏ.

Sau khi tháo bột nên tập phục hồi chức năng, vật lý trị liệu để giúp nhanh chóng phục hồi sức mạnh của cơ và biên độ vận động của khớp.

Biện pháp chăm sóc sau bó bột

  • Nên kê cao vị trí được bó bột để tránh phù nề
  • Cần gồng cơ trong bột đúng cách và thường xuyên để tránh rối loạn dinh dưỡng, teo cơ và xương chậm lành
  • Cố gắng vận động các phần cơ thể không bị bất động để giúp lưu thông máu, tránh bị cứng khớp
  • Tránh tạo áp lực hoặc đặt vật nặng lên lớp bột. Nếu bị chấn thương ở chân và cần đi lại, hãy chắc chắn lớp bột đã cứng hoàn toàn.
  • Giữ cho lớp bột sạch sẽ và khô ráo, nhất là khi vệ sinh, tắm rửa vì nếu bột bị dính nước sẽ gây mùi hôi và hỏng bột. Nếu bó bằng vật liệu sợi thủy tinh và bị ướt, người bệnh có thể dùng máy sấy tóc có chế độ sấy mát (cool) để làm khô. Trường hợp không thể sấy khô hoặc lớp da bên dưới bị ướt, hãy quay lại bệnh viện.
  • Che hoặc bọc lớp bột bằng túi nhựa trước khi tắm. Người bệnh có thể dùng đai treo bó bột làm từ nhựa, thường được bán tại một số cửa hàng vật liệu y tế hoặc nhà thuốc.
  • Không đặt bất kỳ đồ vật nào bên trong lớp bột cũng như không sử dụng các sản phẩm bôi thoa trên lớp da này, kể cả bột phấn trẻ em.
  • Không cào gãi vùng da đang mang bột hay dùng vật nhọn chọc vào. Điều này có thể dẫn đến nhiễm trùng nếu da bị rách hay trầy xước.
  • Không cắt, dũa hoặc phá gỡ những chỗ gồ ghề xung quanh mép của lớp bột thạch cao. Đối với lớp bột bằng sợi thủy tinh, bác sĩ sử dụng công cụ có đầu kim loại để làm mịn các cạnh thô.
  • Không tự tháo bột.
  • Thăm khám thường xuyên theo lịch hẹn của bác sĩ

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn phương pháp hỗ trợ điều trị tốt nhất.

Hello Bacsi không đưa ra các lời khuyên, chẩn đoán hay các phương pháp điều trị y khoa.

Bạn có thể quan tâm đến chủ đề:

Bài viết này có hữu ích cho bạn không?
happy unhappy"

Bài có nhiều người đọc

Đau nhức cánh tay

Đau nhức cánh tay có thể xảy ra do nguyên nhân bệnh lý nhưng phổ biến nhất thường là do chấn thương hoặc lạm dụng chức năng của cánh tay.

Tham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh
Tác giả Ngà Trương

Gãy xương vùng chậu

Gãy xương vùng chậu không phải là loại gãy xương phổ biến, chỉ chiếm khoảng 3% trường hợp gãy xương ở người trưởng thành, thường do tai nạn.

Tham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh
Tác giả Ngọc Anh

Gãy xương do mỏi

Mệt mỏi, căng thẳng là yếu tố nguy hiểm tác động đến sức khỏe. Đây cũng chính là "thủ phạm" của một tình trạng có tên "gãy xương do mỏi".

Tham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh
Tác giả Ngà Trương

Trật khớp ngón tay

Bất kì một chấn thương nào, như tai nạn giao thông, có thể khiến hai xương ngón tay lệch khỏi vị trí ban đầu và gây ra trật khớp ngón tay.

Tham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh
Tác giả Tố Quyên

Bạn có thể quan tâm

thiếu xương

Thiếu xương

Tham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh
Tác giả Tố Quyên
Ngày đăng 22/05/2020
Gãy ngón chân

Gãy ngón chân

Tham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh
Tác giả Ngọc Anh
Ngày đăng 29/04/2020
bàn chân chữ z

Bàn chân chữ Z

Tham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh
Tác giả Ngọc Anh
Ngày đăng 31/03/2020
phẫu thuật thay thế khớp

Phẫu thuật thay khớp

Tham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh
Tác giả Ngọc Vũ
Ngày đăng 12/03/2020