Tổng quan về bệnh viêm ruột

Tác giả: Tham vấn y khoa: Lê Thị Mỹ Duyên

Bệnh viêm ruột (IBD) là một rối loạn khiến hệ tiêu hóa bị viêm. Hệ tiêu hóa bao gồm miệng, thực quản, dạ dày, ruột non và ruột già, giữ chức năng nghiền nát, hấp thụ chất dinh dưỡng từ thức ăn và loại bỏ những chất không sử dụng được nữa.

Các dạng viêm ruột

Có hai dạng viêm ruột thường gặp nhất là viêm loét đại tràng bệnh Crohn.

Viêm loét đại tràng được phân loại dựa trên vị trí viêm và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng:

  • Viêm loét đại tràng. Đây là dạng viêm loét đại tràng nhẹ nhất. Vùng bị viêm thường nằm gần hậu môn;
  • Viêm đại tràng xích ma. Trực tràng và đại tràng xích ma (đoạn cuối đại tràng) thường bị viêm;
  • Viêm đại tràng trái. Chỗ viêm thường mở rộng từ trực tràng sang phần đại tràng xích ma và đại tràng xuống;
  • Viêm đại tràng toàn bộ. Tình trạng này thường ảnh hưởng đến toàn bộ đại tràng;
  • Viêm loét đại tràng cấp tính. Từng được gọi là viêm đại tràng tối cấp, dạng viêm đại tràng hiếm gặp này gây ảnh hưởng lên toàn bộ phần đại tràng.

Bệnh Crohn có thể gây ra những tác động khác nhau lên mỗi người nhưng hồi tràng và đại tràng là hai bộ phận thường hay bị ảnh hưởng nhất.

Bạn nên phân biệt rõ giữa bệnh viêm ruột (IBD) và hội chứng ruột kích thích (IBS). Đặc trưng của hội chứng ruột kích thích là thành ruột bị co bất thường trong khi viêm ruột gây ra tình trạng viêm nhiễm.

Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh viêm ruột

Dù là hai tình trạng rất khác nhau nhưng chứng viêm loét đại tràng và bệnh Crohn lại có một số triệu chứng giống nhau, bao gồm:

  • Co thắt và đau ở vùng bụng;
  • Buồn nôn và ói mửa;
  • Tiêu chảy;
  • Chảy máu trực tràng;
  • Co thắt ruột và co giật cơ nghiêm trọng;
  • Sụt cân bất ngờ;
  • Sốt và bị kiệt sức;
  • Chán ăn.

Theo thời gian những vết viêm ở thành ruột sẽ biến thành các vết loét. Sau đó, thành ruột sẽ mất khả năng xử lý thức ăn, loại chất thải và hấp thụ nước, dẫn đến tiêu chảy. Những vết trầy nhỏ hình thành trong ruột có thể gây đau bụng và đi ngoài ra máu.

Ngoài ra, các bộ phận khác trên cơ thể như mắt, da và các khớp xương đều có thể bị ảnh hưởng. Những người bị viêm ruột có thể bị viêm mắt, viêm khớp và mắc các căn bệnh rối loạn về da.

Có những thời điểm mà các triệu chứng bộc phát và có những lúc các triệu chứng này lại bất hoạt. Một nghiên cứu cho thấy khoảng 35% những người mắc Crohn sẽ bị tái phát một hoặc hai lần trong khoảng 5 năm tiếp theo dù các triệu chứng đã thuyên giảm. Những người bị viêm loét đại tràng có tỷ lệ bệnh thuyên giảm cao hơn và tỷ lệ tái phát trong vòng một năm ở những trường hợp đang có tín hiệu thuyên giảm bệnh là 30%.

Nguyên nhân và nguy cơ gây viêm ruột

Không có nguyên nhân chính xác nào gây ra bệnh viêm ruột. Một vài yếu tố có thể gây khởi phát và khiến các triệu chứng trầm trọng hơn. Hai nguyên nhân có khả năng gây bệnh cao nhất là rối loạn chức năng hệ miễn dịch và di truyền.

  • Bất thường trong hệ miễn dịch: Hệ miễn dịch tấn công thành ruột thay vì vi khuẩn và virus;
  • Di truyền: Bạn sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nếu trong gia đình từng có người bị viêm ruột;
  • Chế độ ăn uống: Tiêu thụ quá nhiều protein trong thịt và cá có thể làm nhiễm độc tế bào và gây ra các vết loét;
  • Độ tuổi: Những người từ 35 tuổi trở xuống thường hay bị viêm ruột. Tuy nhiên bất cứ ai cũng có thể mắc bệnh;
  • Giới tính: Cả nam giới và nữ giới đều có thể bị viêm ruột. Tuy vậy, tình trạng viêm loét đại tràng xảy ra nhiều hơn ở nam giới trong khi nữ giới có nguy cơ bị bệnh Crohn cao hơn;
  • Hút thuốc: Hút thuốc có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh Crohn và khiến các triệu chứng trầm trọng thêm. Có một điều thú vị là những người hút thuốc lại ít có nguy cơ bị viêm loét đại tràng so với những người không hút thuốc hoặc đã từng hút;
  • Isotretinoin (Amnesteem®, Claravis®, Sotret®; formerly Accutane®): Dù vẫn chưa có mối liên hệ rõ ràng giữa chứng viêm ruột và isotretinoin nhưng một vài nghiên cứu lại cho rằng loại thuốc trị mụn này chính là một tác nhân tiềm tàng gây viêm ruột;
  • Các loại thuốc chống viêm không chứa steroid (NSAIDs) như ibuprofen (Advil®, Motrin IB®), naproxen sodium (Aleve®, Anaprox®), diclofenac sodium (Voltaren®, Solaraze®) và các loại thuốc khác có thể làm gia tăng nguy cơ bị viêm ruột hay khiến bệnh trở nặng hơn.

Cách chẩn đoán bệnh viêm ruột

 Để đưa ra chẩn đoán bác sĩ sẽ hỏi về tiền sử mắc bệnh của người thân trong gia đình và cho bạn tiến hành khám tổng quát. Bạn có thể cần thực hiện một vài xét nghiệm để xác nhận, bao gồm:

Xét nghiệm máu

  • Tổng phân tích tế bào máu;
  • Đánh giá dinh dưỡng: Vitamin B12, sắt, lượng folate có trong hồng cầu và các chỉ số dinh dưỡng;
  • Tốc độ lắng máu và mức protein phản ứng C (CRP) có trong máu;
  • Hàm lượng calprotectin có trong phân;
  • Xét nghiệm huyết thanh: Cố định các khuếch tán quanh nhân của kháng thể kháng bào tương có trong bạch cầu đoạn trung tính (p-ANCA) và các kháng thể kháng saccharomyces cerevisiae;
  • Xét nghiệm phân: Cấy phân, xét nghiệm trứng và ký sinh, cấy tìm vi khuẩn gây bệnh và đánh giá tình trạng nhiễm clostridium difficle.

Xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh

  • X-quang ngực và bụng thẳng;
  • Chụp đối quang kép;
  • Siêu âm bụng;
  • Chụp cắt lớp (chụp CT) hay chụp cộng hưởng từ (chụp MRI) ổ bụng và vùng chậu;
  • Chụp cắt lớp vi tính phần ruột.

Phẫu thuật nội soi

  • Nội soi đại tràng và sinh thiết mô/ thương tổn;
  • Nội soi tràng sigma với ống soi mềm;
  • Nội sôi đường tiêu hóa trên;
  • Nội soi viên nang hay nội soi hai bóng.

Cách điều trị và kiểm soát bệnh viêm ruột

Có nhiều cách điều trị bệnh viêm ruột nhưng bác sĩ sẽ thường bắt đầu điều trị bằng việc sử dụng thuốc rồi mới đến thực hiện phẫu thuật.

Sử dụng thuốc

Bác sĩ có thể đề nghị bạn sử dụng thuốc để điều trị viêm và ngăn ngừa các triệu chứng:

  • Bước 1. Sử dụng các loại thuốc aminosalicylate để điều trị đợt bùng phát và ngăn ngừa tái phát. Những loại thuốc này mang lại hiệu quả cao hơn trong việc điều trị viêm loét đại tràng so với bệnh Crohn. Các loại thuốc aminosalicylate có dạng uống, dạng thụt và dạng nhét. Các dẫn xuất của axit 5- aminosalicylic như sulfasalazine, mesalamine, balsalazide, olsalazine cũng có thể được sử dụng để điều trị;
  • Bước 1a. Các loại thuốc kháng sinh (metronidazole, ciprofloxacin, rifaximin) và các kháng thể đơn dòng (monoclonal antibody) như natalizumab được sử dụng vừa phải để điều trị tình trạng viêm loét đại tràng. Tuy nhiên, những loại thuốc này có thể có nhiều tác dụng phụ;
  • Bước 2. Các loại thuốc corticosteroid được dùng để điều trị những lần phát bệnh cấp tính. Bệnh nhân có thể sử dụng các loại cortiscosteroid dạng thuốc uống, thuốc bôi, thuốc nhét hậu môn và dạng tiêm tĩnh mạch, chẳng hạn như hydrocortisone, prednisone, methylprednisolone, prednisolone, budesonide và dexamethasone;
  • Bước 3. Các loại thuốc điều hòa hệ miễn dịch là biện pháp hiệu quả để điều trị các chứng viêm ruột khó chữa mà không sử dụng steroid. Đây là phương án chính chữa trị các vết rò và giúp bệnh thuyên giảm ở những bệnh nhân không dung nạp hay cơ thể không phản hồi với các loại thuốc aminosalicylate. Một số loại thuốc điều hòa hệ miễn nhiễm bao gồm azathioprine, 6-mercaptopurine, methotrexate và cyclosporine;
  • Bước 4. Các loại thuốc thử nghiệm lâm sàng có thể được sử dụng cho từng loại bệnh riêng biệt (chẳng hạn một chất hiệu quả với bệnh Crohn nhưng không hiệu quả với viêm loét đại tràng hay ngược lại).

Bạn có thể dùng các loại thuốc khác để điều trị các triệu chứng như tiêu chảy hay co thắt dạ dày:

  • Các loại thuốc ức chế histamine (H2-receptor antagonist) như cimetidine, ranitidine, famotidine và nizatidine;
  • Các thuốc ức chế bơm proton như omeprazole, lansoprazole, esomeprazole magnesium, rabeprazole sodium và pantoprazole;
  • Những loại thuốc chống tiêu chảy như diphenoxylate, atropine, loperamide và cholestyramine;
  • Những loại thuốc kháng acetylcholin chống co thắt như dicyclomine, hyoscyamine.

Phẫu thuật

Bạn có thể tiến hành phẫu thuật để điều trị  viêm loét đại tràng. Tuy vậy, phương pháp phẫu thuật vẫn có thể giúp cải thiện tình trạng bệnh Crohn ở một số người.

Phẫu thuật cho những bệnh nhân bị viêm loét đại tràng sẽ cắt bỏ toàn bộ đại tràng và trực tràng. Bác sĩ sẽ gắn một túi nhỏ bằng da từ cuối phần ruột cho đến hậu môn để bệnh nhân có thể đi ngoài một cách bình thường. Phương pháp này được gọi là ghép nối hồi tràng hậu môn. Nếu phẫu thuật trên không thể thực hiện được, bác sĩ sẽ rạch một lỗ trên bụng và nối ống thông ra một túi nhỏ bên ngoài để chứa phân.

Phẫu thuật cho những bệnh nhân bị bệnh Crohn không đảm bảo rằng bệnh sẽ không tái phát lại. Phần lớn những người bệnh Crohn sẽ được phẫu thuật ít nhất một lần trong quá trình điều trị. Phẫu thuật sẽ loại  bỏ phần ruột bị hư hại và nối những phần ruột khỏe mạnh.

Bất cứ ai cũng có thể bị viêm ruột và cho đến nay vẫn chưa có cách điều trị dứt điểm cho căn bệnh này. Cách tốt nhất để điều trị là ngăn chặn những đợt phát bệnh và kiểm soát các triệu chứng. Bạn có thể nhờ bác sĩ tư vấn về những phương pháp phòng chống bao gồm những cải thiện, thay đổi trong bữa ăn hằng ngày để kiểm soát và ngăn ngừa bệnh.

Chia sẻ thông tin hữu ích này cho mọi người trên:

Ngày đăng: Tháng Mười Một 28, 2016 | Lần cập nhật cuối: Tháng Mười Một 15, 2019

Nguồn tham khảo
Bài có nhiều người đọc