Liệu pháp điều trị trúng đích: Cơ hội chữa trị ung thư vú và ung thư phổi

Tác giả: Tham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh

Ung thư vú và ung thư phổi là hai căn bệnh ung thư phổ biến nhất ở nam giới và nữ giới. Liệu pháp điều trị trúng đích là liệu pháp mới và hiệu quả khi chẩn đoán mắc ung thư vú hay ung thư phổi.

Theo số liệu thống kê, mỗi năm nước ta có khoảng 11.000 ca mắc mới ung thư vú, 22.000 ca mắc mới ung thư phổi, trong đó gần 20.000 ca tử vong. Đa số trường hợp phát hiện ung thư vú và ung thư phổi thì đã ở giai đoạn muộn, gây nhiều khó khăn cho điều trị.

Liệu pháp điều trị trúng đích ra đời và là bước tiến lớn hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân ung thư. Bạn hãy cùng Hello Bacsi tìm hiểu các loại thuốc đã được FDA cấp phép dùng trong điều trị cho bệnh nhân ung thư phổi và ung thư vú để có thêm thông tin điều trị nhé.

Tìm hiểu về liệu pháp điều trị trúng đích

liệu pháp điều trị trúng đích

Khi bị chẩn đoán mắc ung thư vú hay ung thư phổi, bệnh nhân có thể trải qua phẫu thuật để cắt bỏ khối u nếu đủ điều kiện và thực hiện phác đồ điều trị ung thư để kiểm soát khối u.

Các liệu pháp điều trị ung thư vú và ung thư phổi phổ biến ở Việt Nam hiện nay bao gồm:

  • Hóa trị (Chemotherapy)
  • Xạ trị (Radiation)
  • Liệu pháp miễn dịch (Immunotherapy)
  • Liệu pháp điều trị trúng đích (Targeted Therapies)
  • Liệu pháp gene (Gene therapy).

Trong đó, liệu pháp điều trị trúng đích là một liệu pháp mới, cho thấy những hiệu quả vượt trội đã đem lại những lựa chọn điều trị, niềm hy vọng cho nhiều bệnh nhân ung thư vú và ung thư phổi.

Liệu pháp điều trị ung thư trúng đích là gì?

liệu pháp điều trị trúng đích

Liệu pháp điều trị trúng đích là các loại thuốc hoặc các chất có khả năng ngăn chặn sự tăng sinh và lan rộng của khối u bằng cách can thiệp vào các phân tử đặc hiệu (gọi là các phân tử đích) có liên quan đến sự tăng sinh, tiến triển và lan rộng của ung thư.  

Liệu pháp điều trị trúng đích thường được các bác sĩ và bệnh nhân ung thư gọi là “thuốc đích” hay “điều trị nhắm trúng đích”.

Tới nay, nhiều loại thuốc trong nhóm liệu pháp điều trị trúng đích đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt để sử dụng trong điều trị ung thư bao gồm: ung thư vú, ung thư phổi, ung thư trực tràng…

Phân loại liệu pháp điều trị trúng đích

Liệu pháp điều trị trúng đích có thể được phân thành hai nhóm chính:

  • Thuốc phân tử nhỏ (small molecule medicines)
  • Kháng thể đơn dòng (monoclonal antibodies).

Thuốc phân tử nhỏ thường có đuôi “-ib.” trong tên gọi của thuốc liệu pháp điều trị trúng đích, ví dụ như imatinib (Gleevec) dùng trong điều trị ung thư máu.

Kháng thể đơn dòng thường có đuôi “-mab.” trong tên gọi, ví dụ bevacizumab (Avastin), là loại thuốc liệu pháp điều trị trúng đích có khả năng ức chế các mạch máu nuôi khối u. Kháng thể đơn dòng được tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da.

16 loại thuốc liệu pháp điều trị trúng đích được FDA cấp phép cho điều trị ung thư vú

Protein có tên HER2 là một thụ thể nằm ngoài tế bào. Thụ thể này truyền tín hiệu cho tế bào tăng trưởng và phân chia. Ung thư vú dạng HER2+ có mức biểu hiện protein này rất cao, vì vậy khối u tăng sinh và lan rộng nhanh chóng. HER2 trở thành đích tác dụng của nhiều loại thuốc liệu pháp điều trị trúng đích cho bệnh nhân ung thư vú.

1. Everolimus (Afinitor®)

Everolimus được FDA cấp phép dùng kết hợp với exemestane để điều trị ung thư vú tiến triển cho bệnh nhân có các điều kiện là phụ nữ đã mãn kinh, khối u dương tính với thụ thể hormone (HR+) và âm tính với HER2 (HER2-) nhưng tình hình không được cải thiện sau khi điều trị bằng letrozole hoặc anastrozole.

2. Tamoxifen (Nolvadex)

Tamoxifen citrate được FDA cấp phép dùng trong điều trị ung thư vú ở cả nam và nữ mắc ung thư vú di căn hoặc điều trị cho những bệnh nhân ung thư vú nữ đã trải qua phẫu thuật và điều trị xạ trị.

3. Toremifene (Fareston®)

liệu pháp điều trị trúng đích

Toremifene được FDA cấp phép dùng trong điều trị ung thư vú di căn. Thuốc thường được chỉ định cho bệnh nhân K vú là nữ đã mãn kinh có khối u dương tính với thụ thể estrogen (ER+) hoặc khi không biết khối u là ER+ hay ER-.

4. Trastuzumab (Herceptin®)

Trastuzumab được FDA cấp phép dùng trong điều trị ung thư vú dương tính với HER2 (HER2+). Thuốc có thể dùng đơn lẻ hoặc dùng kết hợp với các liệu pháp khác.

5. Fulvestrant (Faslodex®)

Fulvestrant được FDA chấp thuận dùng trong điều trị ung thư vú trong các trường hợp:

• Bệnh nhân đã mãn kinh, mắc ung thư vú tiến triển HR+ và HER2- chưa từng trải qua điều trị bằng liệu pháp hormone.

• Bệnh nhân đã mãn kinh, mắc ung thư vú tiến triển HR+ và tình trạng bệnh không được cải thiện sau khi điều trị bằng liệu pháp hormone.

• Sử dụng kết hợp với Palbociclib hoặc Abemaciclib để điều trị cho bệnh nhân nữ mắc ung thư vú tiến triển HR+ và HER2- hoặc mắc ung thư vú di căn và tình trạng không được cải thiện sau khi điều trị bằng liệu pháp hormone.

6. Anastrozole (Arimidex®)

Anastrozole được FDA cấp phép dùng trong điều trị ung thư vú cho bệnh nhân nữ sau mãn kinh trong các trường hợp sau:

• Ung thư vú giai đoạn sớm và khối u dương tính với thụ thể hormone (HR+). Thuốc cũng được sử dụng cho những bệnh nhân đã từng điều trị bằng các liệu pháp khác.

• Ung thư vú tiến triển vùng hoặc ung thư vú đã di căn mang HR+ hoặc không biết rõ khối u là HR+ hay HR-. Thuốc cũng được dùng như liệu pháp điều trị đầu tiên cho những bệnh nhân này.

• Ung thư vú tiến triển không đáp ứng với điều trị bằng tamoxifen citrate.

7. Exemestane (Aromasin®)

Exemestane được FDA chấp thuận dùng để điều trị:

  • Ung thư vú tiến triển.
  • Ung thư vú giai đoạn sớm và dương tính với thụ thể estrogen (HR+).

Exemestane được sử dụng cho bệnh nhân nữ đã mãn kinh đã trải qua điều trị với thuốc tamoxifen citrate.

8. Lapatinib (Tykerb®)

Lapatinib ditosylate được FDA chấp thuận dùng kết hợp với các loại thuốc khác để điều trị ung thư vú tiến triển hoặc đã di căn. Thuốc được sử dụng cho các trường hợp:

  • Dùng kết hợp với capecitabine để điều trị cho bệnh nhân nữ mắc ung thư vú HER2+ không đáp ứng với hóa trị.
  • Dùng kết hợp với Letrozole để điều trị cho phụ nữ đã mãn kinh mắc ung thư vú HER2+ và HR+ và cần được điều trị bằng liệu pháp hormone. 

9. Letrozole (Femara®)

Letrozole được FDA chấp thuận để được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với các liệu pháp khác để điều trị ung thư vú ở phụ nữ đã mãn kinh trong các trường hợp sau:

√ Ung thư vú giai đoạn sớm, dương tính với thụ thể hormone (HR+) ở những phụ nữ đã điều trị bằng các phương pháp khác.

√ Ung thư vú giai đoạn sớm đã được điều trị bằng tamoxifen citrate trong ít nhất năm năm.

√ Ung thư vú giai đoạn tiến triển khu vực hoặc đã di căn và có khối u HER2+ và HR+.

√ Ung thư vú tiến triển khu vực hoặc đã di căn, chưa rõ là HR+ hay HR-.

√ Ung thư vú tiến triển, tình trạng bệnh không được cải thiện sau khi điều trị bằng liệu pháp antiestrogen.

10. Pertuzumab (Perjeta®)

liệu pháp điều trị trúng đích

Pertuzumab được FDA chấp thuận để sử dụng kết hợp với trastuzumab và docetaxel hoặc các loại thuốc khác để điều trị ung thư vú HER2+ trong các trường hợp:

  • Bệnh nhân bị ung thư vú di căn chưa từng điều trị bằng liệu pháp hormone hoặc hóa trị.
  • Dùng như liệu pháp điều trị bổ trợ (để khối u nhỏ lại trước khi phẫu thuật) ở những bệnh nhân mắc ung thư vú tiến triển khu vực, viêm hoặc ung thư vú giai đoạn sớm.
  • Dùng như liệu pháp điều trị bổ trợ ở những bệnh nhân mắc ung thư vú giai đoạn sớm có nguy cơ tái phát cao.

11. Ado-trastuzumab emtansine (Kadcyla®)

Ado-trastuzumab emtansine được FDA chấp thuận để điều trị ung thư vú HER2+ đã di căn. Thuốc thường được dùng cho những bệnh nhân đã điều trị bằng trastuzumab và taxane. Thuốc cũng được dùng để điều trị cho những bệnh nhân bị ung thư vú tái phát sau khi điều trị bổ trợ.

12. Palbociclib (Ibrance®)

Palbociclib được FDA chấp thuận để được sử dụng kết hợp với các loại thuốc khác để điều trị:

  • Ung thư vú HR+ và HER2- và là ung thư vú tiến triển hoặc đã di căn.
  • Được dùng kết hợp với fulvestrant trong trường hợp ung thư vú ở nữ không đáp ứng với liệu pháp hormone.
  • Được dùng như một chất ức chế aromatase ở những phụ nữ đã mãn kinh chưa từng điều trị bằng liệu pháp hormone.

13. Ribociclib (Kisqali®)

Ribociclib được FDA chấp thuận để dùng kết hợp với các loại thuốc khác để điều trị ung thư vú HR+ và HER2- và là ung thư vú tiến triển hoặc đã di căn. Thuốc thường được sử dụng:

  • Kết hợp với một chất ức chế aromatase để điều trị cho những phụ nữ mắc bệnh và chưa từng điều trị bằng liệu pháp hormone.
  • Kết hợp với fulvestrant để điều trị cho phụ nữ đã mãn kinh chưa từng điều trị bằng liệu pháp hormone hoặc đã điều trị nhưng tình trạng bệnh không được cải thiện.

14. Neratinib maleate (Nerlynx™)

Neratinib maleate được FDA chấp thuận để điều trị ung thư vú giai đoạn sớm và HER2+. Thuốc cũng được dùng như một liệu pháp bổ trợ mở rộng để điều trị cho những bệnh nhân đã điều trị bằng trastuzumab sau phẫu thuật.

15. Abemaciclib (Verzenio™)

Abemaciclib được FDA chấp thuận để điều trị ung thư vú HR+ và HER2- và là ung thư vú tiến triển hoặc đã di căn.

Thuốc được dùng kết hợp với fulvestrant để điều trị cho những phụ nữ bị bệnh và không đáp ứng với liệu pháp hormone.

• Thuốc được dùng riêng lẻ để điều trị ung thư vú ở nam giới và nữ giới sau khi điều trị bằng liệu pháp hormone và hóa trị dùng cho ung thư vú ác tính.

• Được sử dụng như một chất ức chế aromatase để điều trị cho phụ nữ mắc ung thư vú đã mãn kinh như một liệu pháp điều trị đầu tiên.

16. Olaparib (Lynparza™)

Olaparib được chấp thuận để điều trị ung thư vú đã di căn. Thuốc được sử dụng ở những bệnh nhân có ung thư mang đột biến gen BRCA1 hoặc BRCA2 và âm tính với HER2 (HER2-) trước đó đã được điều trị bằng hóa trị liệu hoặc sau khi phẫu thuật, thuốc cũng dùng cho ung thư vú đã di căn.

18 loại thuốc liệu pháp điều trị trúng đích được FDA cấp phép cho điều trị ung thư phổi

liệu pháp điều trị trúng đích

1. Bevacizumab (Avastin®)

Bevacizumab được FDA chấp thuận dùng trong ung thư phổi không tế bào nhỏ, không vảy (nonsquamous non-small cell lung cancer) đã ở giai đoạn tiến triển, không thể tiến triển, đã di căn hoặc tái phát. Thuốc có thể dùng đơn lẻ hoặc kết hợp với các loại thuốc khác.

2. Crizotinib (Xalkori®)

Crizotinib được FDA chấp thuận dùng trong ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) đã di căn (xâm lấn tới các cơ quan khác trên cơ thể). Thuốc có hiệu quả với những bệnh nhân có khối u mang đột biến nhiễm sắc thể gây ảnh hưởng tới gen ALK (anaplastic lymphoma kinase) và gen ROS1.

3. Erlotinib (Tarceva®)

Erlotinib hydrochloride được FDA cấp phép dùng trong ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) đã di căn hoặc mang đột biến gen EGFR. Thuốc có thể dùng đơn lẻ hoặc kết hợp với các thuốc để điều trị:

  •  Như liệu pháp điều trị đầu tiên.
  •  Cho những bệnh nhân đang điều trị duy trì hoặc những người đã điều trị hóa trị nhưng tình hình bệnh nặng hơn.

Việc sử dụng erlotinib hydrochloride để điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ không mang đột biến gen EGFR không còn được FDA chấp thuận.

4. Gefitinib (Iressa®)

Gefitinib được FDA chấp thuận dùng trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) đã di căn (lan sang các bộ phận khác của cơ thể). Thuốc được sử dụng như liệu pháp điều trị đầu tiên ở những bệnh nhân có khối u mang đột biến gen EGFR.

5. Afatinib dimaleate (Gilotrif®)

Afatinib dimaleate được chấp thuận để điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) đã di căn. Thuốc được sử dụng:

  • Như liệu pháp điều trị đầu tiên ở những bệnh nhân có khối u mang đột biến gen EGFR.
  • Ở những bệnh nhân bị ung thư phổi không tế bào nhỏ dạng vảy đã điều trị bằng hóa trị với platinum nhưng tình trạng bệnh trở nên nặng hơn.

6. Ceritinib (LDK378/Zykadia™)

Ceritinib được FDA chấp thuận dùng trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ đã di căn. Thuốc được sử dụng cho những bệnh nhân bị ung thư mang đột biến gen ALK.

7. Ramucirumab (Cyramza®)

Ramucirumab được FDA cấp phép dùng trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ đã di căn. Thuốc có thể sử dụng ở dạng đơn lẻ hoặc kết hợp với các loại thuốc khác. Thuốc thường được sử dụng kết hợp với docetaxel để điều trị cho những bệnh nhân đã điều trị bằng hóa trị nhưng tình trạng trở nặng.

Những bệnh nhân mang ung thư có đột biến gen EGFR và ALK có thể dùng ramucirumab trong trường hợp bệnh tình trở nặng sau khi đã điều trị bằng các loại thuốc liệu pháp điều trị trúng đích dành cho các đột biến trên.

8. Nivolumab (Opdivo®)

Nivolumab được FDA cấp phép dùng trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ đã di căn. Thuốc có thể dùng ở dạng đơn lẻ hoặc kết hợp với các loại thuốc khác.

Những bệnh nhân đã điều trị bằng platinum nhưng bệnh tình nặng lên có thể sử dụng Nivolumab. Những bệnh nhân có khối u mang đột biến chỉ sử dụng Nivolumab sau khi các loại thuốc đích cho đột biến của họ không còn phát huy tác dụng.

9. Pembrolizumab (Keytruda®)

liệu pháp điều trị trúng đích

Pembrolizumab được FDA cấp phép dùng trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ đã di căn. Thuốc được sử dụng:

  • Ở dạng kết hợp với hóa trị bằng pemetrexed và platinum như là phác đồ điều trị đầu tiên ở những bệnh nhân bị ung thư phổi không vảy.
  • Đơn lẻ như liệu pháp điều trị đầu tiên ở những bệnh nhân khối u có biểu hiện PD-L1 và không mang đột biến EGFR hoặc ALK.
  • Đơn lẻ để điều trị cho những bệnh nhân có khối u biểu hiện PD-L1 protein và tình trạng bệnh trở nặng trong thời gian điều trị hoặc sau khi điều trị với hóa trị platinum.

Những bệnh nhân có khối u mang đột biến gen EGFR và ALK chỉ nên điều trị bằng pembrolizumab nếu bệnh của họ diễn biến xấu đi sau khi dùng thuốc đích được FDA cấp phép cho các dạng đột biến này.

10. Osimertinib (Tagrisso™)

Osimertinib được FDA chấp thuận dùng trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ đã di căn. Thuốc được dùng cho những bệnh nhân có khối u mang đột biến EGFR như là liệu pháp điều trị đầu tiên hoặc sau khi đã sử dụng các loại thuốc liệu pháp điều trị trúng đích có tác dụng ức chế EGFR trước đó.

11. Necitumumab (Portrazza™)

Necitumumab được FDA chấp thuận để điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ, có vảy đã di căn. Thuốc được sử dụng như liệu pháp điều trị đầu tiên.

12. Alectinib (Alecensa®)

Alectinib được chấp thuận để điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ mang đột biến ALK và đã di căn.

13. Atezolizumab (Tecentriq™)

Atezolizumab được FDA chấp thuận để điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ đã di căn. Thuốc được sử dụng ở những bệnh nhân có tình trạng bệnh nặng lên sau thời gian điều trị hoặc sau khi điều trị với hóa trị planinum.

Đối với những bệnh nhân ung thư mang đột biến EGFR hoặc ALK, atezolizumab sẽ được chỉ định nếu khối u không đáp ứng với các loại thuốc liệu pháp điều trị trúng đích đặc hiệu cho các đột biến này.

14. Brigatinib (Alunbrig™)

Brigatinib được FDA chấp thuận để điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ có mang đột biến ALK và đã di căn. Brigatinib cũng được chỉ định cho những bệnh nhân không thể điều trị bằng crizotinib hoặc không đáp ứng với crizotinib.

15. Trametinib (Mekinist®)

liệu pháp điều trị trúng đích

Trametinib được FDA chấp thuận dùng trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ đã di căn. Thuốc cũng được sử dụng cho những bệnh nhân mang đột biến gen BRAF.

16. Dabrafenib (Tafinlar®)

Dabrafenib được FDA chấp thuận dùng trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ đã di căn. Thuốc có thể dùng đơn lẻ hoặc kết hợp với trametinib. Dabrafenib chỉ được kê cho những bệnh nhân mang đột biến gen BRAF.

17. Durvalumab (Imfinzi™)

Durvalumab được FDA chấp thuận dùng trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn III, không thể loại bỏ khối u bằng phẫu thuật và không tiến triển nặng thêm sau khi hóa trị platinum hoặc xạ trị.

18. Dacomitinib (Vizimpro®)

Necitumumab được FDA chấp thuận dùng ở dạng kết hợp với gemcitabine và cisplastin để điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ đã di căn. Thuốc được sử dụng như liệu pháp điều trị đầu tiên ở những bệnh nhân có khối u mang đột biến EGFR.

Các bệnh nhân trước khi dùng thuốc cần lắng nghe và được sự cho phép theo sự chỉ định của bác sĩ mới được sử dụng, không có chỉ định hoặc dùng không đúng hướng dẫn dùng sẽ gây ra những tác dụng không mong muốn và tốn kém.

Hồng Nhung | HELLO BACSI

Bạn có thể quan tâm đến chủ đề:

Chia sẻ thông tin hữu ích này cho mọi người trên:

Ngày đăng: Tháng Mười Một 24, 2018 | Lần cập nhật cuối: Tháng Mười Một 21, 2018

Nguồn tham khảo
Bài có nhiều người đọc