Bạn cần biết gì sau khi ghép tế bào gốc máu và tủy?

Tác giả: Tham vấn y khoa: Lê Thị Mỹ Duyên

Sau khi ghép tế bào gốc máu và tủy, bạn sẽ ở lại bệnh viện trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng. Bác sĩ sẽ cho phép bạn về nhà khi:

  • Tủy xương của bạn có thể tạo ra đủ các tế bào máu khỏe mạnh;
  • Bạn không có biến chứng nặng;
  • Bạn cảm thấy khỏe hơn và tất cả các vết loét miệng/hoặc tiêu chảy đã cải thiện hoặc biến mất;
  • Khẩu vị của bạn được cải thiện;
  • Bạn không sốt hoặc nôn;

Trong tuần và tháng đầu tiên sau khi rời bệnh viện, bạn sẽ cần thường xuyên đến tái khám để các bác sĩ theo dõi tiến triển sức khỏe. Những cuộc tái khám sẽ ít thường xuyên hơn theo thời gian.

Nhân viên tại các phòng khám sẽ hướng dẫn bạn và người chăm sóc cách sử dụng ống thông tĩnh mạch (đường truyền này sẽ ở yên tại chỗ ít nhất 6 tháng sau khi ghép), theo dõi và ngăn ngừa nhiễm trùng và những cách khác để chăm sóc cho bạn. Bác sĩ cũng sẽ cho bạn biết phải gọi cho ai và phải làm gì trong trường hợp khẩn cấp.

Việc phục hồi từ phẫu thuật ghép tế bào gốc có thể chậm, thậm chí mất 6-12 tháng để hồi phục nồng độ tế bào máu bình thường và chức năng miễn dịch. Trong thời gian này, điều quan trọng là bạn phải thực hiện các bước để giảm nguy cơ nhiễm trùng, nghỉ ngơi nhiều và làm theo hướng dẫn của bác sĩ về các loại thuốc và kiểm tra.

Rủi ro của ghép tế bào gốc máu và tủy là gì?

Nguy cơ chính của ghép tế bào gốc máu và tủy là nhiễm trùng, bệnh thải mảnh ghép (GVHD) và thất bại khi ghép.

Nhiễm trùng

Bạn có thể dễ dàng bị nhiễm trùng sau khi mổ do hệ miễn dịch suy yếu. Nguy cơ nhiễm trùng sẽ giảm khi hệ miễn dịch hồi phục.

Để ngăn ngừa nhiễm trùng, bạn có thể áp dụng những cách sau đây:

  • Tắm bồn hoặc tắm vòi sen hàng ngày;
  • Cẩn thận làm sạch răng và nướu răng;
  • Làm sạch vùng xung quanh ống thông tĩnh mạch;
  • Tránh các loại thực phẩm chứa vi khuẩn có hại, chẳng hạn như trái cây tươi và rau quả sống;

Người được ghép thỉnh thoảng được tiêm vắc xin để ngăn chặn virus và nhiễm trùng, chẳng hạn như bệnh cúm và viêm phổi. Nếu bạn bị nhiễm trùng, bác sĩ sẽ kê toa thuốc để điều trị bệnh.

Bệnh thải mảnh ghép (GVHD)

Bệnh thải mảnh ghép là biến chứng thường gặp đối với những người nhận tế bào gốc từ người hiến. Khi mắc bệnh, các tế bào gốc mới sẽ tấn công cơ thể bạn.

Bệnh thải mảnh ghép cấp tính xảy ra trong vòng 90-100 ngày ghép. Bệnh thải mảnh ghép mãn tính bắt đầu khoảng 90-100 ngày sau khi ghép hoặc vượt quá 90 ngày sau khi ghép.

Bệnh có thể nhẹ hoặc đe dọa tính mạng. Các dấu hiệu và triệu chứng bệnh bao gồm:

  • Bắt đầu phát ban trên lòng bàn tay, lòng bàn chân và lây lan đến phần thân. Qua thời gian, phát ban có thể bao phủ toàn bộ cơ thể bạn. Da có thể giộp hoặc tróc nếu phát ban nặng;
  • Buồn nôn (cảm giác khó chịu ở bụng), nôn, chán ăn, đau bụng, tiêu chảy. Bác sĩ sẽ xác định mức độ nặng của bệnh dựa trên tính nghiêm trọng của tiêu chảy;
  • Vàng da (da và tròng mắt vàng) và đau dạ dày. Những triệu chứng này cho thấy bạn bị tổn thương gan.

Bác sĩ sẽ kê toa thuốc để điều trị bệnh thải mảnh ghép. Bác sĩ sẽ chỉ định glucocorticoid, như methyl prednisolone, prednisone kết hợp với cyclosporin, antithymocyte globulin hoặc các kháng thể đơn dòng để điều trị bệnh thải mảnh ghép cấp tính.

Bác sĩ điều trị bệnh thải mảnh ghép cấp tính bằng steroid – thường là cyclosporin và prednisone vào các ngày xen kẽ nhau.

Những người lớn tuổi, người từng bị bệnh này trước đây và người nhận tế bào gốc từ người hiến không phù hợp sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh thải mảnh ghép cấp tính.

Bác sĩ có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh bằng cách:

  • Cẩn thận đánh giá tế bào gốc của bạn và tế bào gốc của người hiến thông qua phân loại mô HLA;
  • Sử dụng các loại thuốc để ức chế hệ miễn dịch;
  • Loại bỏ một số loại tế bào T từ các tế bào của người hiến do các tế bào T sẽ tấn công cơ thể khi mắc bệnh thải mảnh ghép cấp tính;
  • Sử dụng máu dây rốn làm nguồn của tế bào người hiến.

Ghép thất bại

Ghép thất bại xảy ra nếu hệ miễn dịch của bạn đào thải các tế bào gốc mới. Tình trạng này cũng có thể xảy ra nếu các tế bào gốc không đủ để sử dụng, các tế bào gốc mới bị hư hỏng trong quá trình lưu trữ hoặc tủy xương tổn thương sau khi ghép.

Những người ít chuẩn bị cho phẫu thuật ghép sẽ dễ bị thất bại khi ghép. Những người nhận được tế bào từ các người hiến kém phù hợp cũng có nhiều khả năng ghép thất bại.

Các rủi ro khác

Hóa trị và/hoặc xạ trị mà bạn thực hiện trong quá trình chuẩn bị ghép có thể gây ra các biến chứng. Đôi khi, những biến chứng xảy ra rất lâu sau khi ghép.

Các biến chứng có thể bao gồm vô sinh, đục thủy tinh thể, bệnh ung thư mới và tổn thương gan, thận, phổi hoặc tim.

Ung thư tái phát

Bệnh ung thư thường trở lại ở những người ghép tế bào gốc để điều trị ung thư (như ung thư máu). Điều này xảy ra thường xuyên hơn ở những người sử dụng các tế bào gốc của chính mình so với người nhận được tế bào gốc từ một người hiến (dị ghép).

Sự khác biệt này là do các tế bào gốc từ người hiến nhận ra các tế bào ung thư mới là ngoại vật và tiêu diệt chúng. Tình trạng này có tên là hiệu ứng mảnh ghép chống lại khối u. Còn tế bào gốc của chính bệnh nhân thì không xem các tế bào ung thư mới là ngoại vật, cho phép các tế bào ung thư phát triển và nhân lên.

Bác sĩ sẽ sử dụng liệu pháp miễn dịch để giúp ngăn ngừa hoặc điều trị bệnh ung thư ở những người đã ghép tế bào gốc. Điều trị này kích thích hệ miễn dịch tấn công các tế bào ung thư.

Hello Health Group không đưa ra các lời khuyên, chẩn đoán hay các phương pháp điều trị y khoa.

Chia sẻ thông tin hữu ích này cho mọi người trên:

Ngày đăng: Tháng Mười 30, 2016 | Lần cập nhật cuối: Tháng Mười Một 15, 2019

Nguồn tham khảo
Bài có nhiều người đọc