HIV và bệnh tim

Tác giả: Tham vấn y khoa: TS. Dược khoa Trương Anh Thư

Hai loại thuốc được sử dụng để cứu sống trong điều trị HIV/AIDS đặt bệnh nhân vào nguy cơ cao xảy ra tình trạng có khả năng gây tử vong: nhồi máu cơ tim.

Việc sử dụng rộng rãi liệu pháp kháng virus hoạt tính cao (HAART) với các thuốc ức chế men sao chép ngược nucleoside (NRTI) đã chuyển đổi HIV/AIDS từ một bản án tử hình tự động thành tình trạng mãn tính thường trực có thể kiểm soát được. Tuy nhiên, theo một phân tích FDA năm 2008, số liệu thu thập về sự kiện bất lợi của thuốc chống HIV (DAD), một NRTI gọi abacavir (Ziagen) làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim khoảng 90%. Một loại thuốc tương tự, didanosine (Videx), nâng cao nguy cơ đó khoảng 49%.

Các phân tích kiểm tra 3 NRTI khác – zidovudine, stavudine và lamivudine – không loại nào trong số chúng làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim. Các nhà nghiên cứu đã không xem xét 2 NRTI khác: tenofovir và emtricitabine.

Thuốc vẫn được sử dụng

Mặc dù nguy cơ này có vẻ báo động, các nhà nghiên cứu nhanh chóng chỉ ra rằng họ đã không thành lập mối quan hệ nhân quả giữa các loại thuốc và nhồi máu cơ tim. Các mối nguy hiểm liên quan đến tim mạch với abacavir và didanosine không tăng lên khi sử dụng thuốc lâu hơn và biến mất 6 tháng sau khi bệnh nhân ngừng dùng thuốc.

Không có cảnh báo về việc không kê đơn các loại thuốc này được ban hành, cũng không có quy định tiếp tục được khuyến khích. Nhưng các bác sĩ đã được khuyên nên báo cáo bất kỳ phản ứng tiêu cực với abacavir và didanosine.

Các yếu tố nguy cơ tim mạch khác

Các mối đe dọa gia tăng của một số NRTI có vẻ tồi tệ hơn khi bệnh nhân còn có các yếu tố nguy cơ khác của bệnh tim:

  • Tiền sử cá nhân của bệnh tim
  • Cholesterol cao
  • Huyết áp cao
  • Bệnh tiểu đường
  • Hút thuốc
  • Cao tuổi.

Mối liên hệ giữa HAART và tim

Có thể là các NRTI được sử dụng trong liệu pháp HAART làm cho biến cố tim mạch phổ biến hơn ở những người bị nhiễm HIV vì chúng dẫn đến rối loạn chuyển hóa lipid, làm tái phân phối lại mỡ trên cơ thể bệnh nhân. Rối loạn chuyển hóa lipid có thể gây tích tụ mỡ ở mặt sau của cổ, bụng, và trong một số trường hợp là ở ngực của phụ nữ. Đồng thời, mỡ có thể bị mất ở khuôn mặt, mông và chân tay.

Kháng insulin và rối loạn chuyển hóa lipid máu

Một số thay đổi nguy hiểm trong sự trao đổi chất có thể cho kết quả:

  • Kháng Insulin: insulin của cơ thể có thể không thể mang glucose (đường huyết) từ máu vào các tế bào; tình trạng này có thể dẫn đến bệnh tiểu đường.
  • Rối loạn chuyển hóa lipid máu: Lượng lipid (cholesterol và triglyceride) trong máu có thể tăng, điều này có thể dẫn đến bệnh tim mạch.

Chế độ ăn theo kiểu Địa Trung Hải

Bệnh nhân có thể chống rối loạn chuyển hóa lipid bằng cách thực hiện theo “chế độ ăn Địa Trung Hải”– một chế độ ăn uống ít chất béo hơn bình thường (đặc biệt là chất béo bão hòa), đường tinh chế và rượu, ăn nhiều ngũ cốc, đậu, trái cây và rau quả. Tăng chất xơ trong chế độ ăn có thể làm giảm mỡ bụng và kiểm soát đề kháng insulin.

Tập thể dục aerobic cũng được khuyến khích, điều này làm tăng nhịp tim và bơm máu nhiều hơn đến các cơ bắp. Các thuốc như hormone tăng trưởng và metformin (Glucophage), một loại thuốc điều trị tiểu đường, đôi khi được kê cho những người có rối loạn chuyển hóa lipid.

Bạn có thể quan tâm đến chủ đề:

Chia sẻ thông tin hữu ích này cho mọi người trên:

Ngày đăng: Tháng Một 7, 2016 | Lần cập nhật cuối: Tháng Ba 5, 2018

Nguồn tham khảo
Bài có nhiều người đọc