Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành

Tác giả: Tham vấn y khoa: TS. Dược khoa Trương Anh Thư

Trong phẫu thuật bắc cầu động mạch vành – còn được gọi là phẫu thuật mạch vành ghép tim nhân tạo, hoặc CABG – bác sĩ phẫu thuật sẽ ghép một động mạch hoặc tĩnh mạch còn bình thường vào động mạch vành bị bệnh, phía trên của đoạn bị tắc nghẽn do mảng bám. Thủ thuật này cho phép máu có thể băng ngang qua chỗ hẹp bằng một con đường khác rộng rãi hơn, từ đó cải thiện việc cung cấp máu cho cơ tim.

Ai nên phẫu thuật bắc cầu động mạch vành?

Phẫu thuật rất hiệu quả trong việc cải thiện các triệu chứng của cơn đau thắt ngực nếu bạn bị đau thắt ngực ổn định.

Nếu bạn bị tắc nghẽn nặng ở nhiều nhánh động mạch vành, hoặc tắc nghẽn trong thân chung động mạch vành trái (là các động mạch vành quan trọng nhất), hoặc cơ tim yếu (một tình trạng về bệnh cơ tim), phẫu thuật bắc cầu có thể kéo dài cuộc sống của bạn hơn so với điều trị bằng nong mạch vành và đặt stent, hoặc với điều trị bằng thuốc. Phẫu thuật bắc cầu cũng có thể hữu ích ở những người bị hội chứng mạch vành cấp.

Phẫu thuật được tiến hành như thế nào?

Phẫu thuật được thực hiện dưới sự gây mê toàn thân. Bác sĩ phẫu thuật tách xương ức để mở ngực, sau đó làm ngừng tim đập bằng cách sử dụng hóa chất hoặc chất làm lạnh (được gọi là hạ thân nhiệt) để giữ cho tim không chuyển động, nhờ vậy bác sĩ có thể ghép mạch máu vào một cách chính xác nhất. Trong khi tim ngừng đập, máu sẽ được lưu thông bằng cách sử dụng máy tim phổi nhân tạo. Sau khi mô ghép được gắn vào tim, bác sĩ sẽ làm cho tim đập trở lại.

Bác sĩ thường dùng các mạch máu từ tĩnh mạch ở chân (tĩnh mạch hiển), hoặc động mạch ở thành ngực (động mạch vú trong) để làm mạch máu ghép vào mạch vành.

Phẫu thuật ghép mô sử dụng động mạch thường kéo dài hơn so với ghép mô sử dụng tĩnh mạch, và ghép mô động mạch thường ít bị hẹp lại hơn là ghép mô tĩnh mạch. Vì vậy mảnh ghép lấy từ động mạch vú trong nói chung nên được sử dụng hơn là mảnh ghép lấy từ tĩnh mạch hiển. Thường thì mảnh ghép từ tĩnh mạch sẽ bị tắc nghẽn do xơ vữa động mạch lại trong vòng 10–12 năm sau phẫu thuật.

Trong những năm gần đây, các kỹ thuật phẫu thuật mới đang được phát triển gọi là “phẫu thuật bắc cầu xâm lấn tối thiểu”. Phẫu thuật xâm lấn tối thiểu thường sử dụng vết mổ nhỏ hơn so với những thủ thuật bình thường, và thường không cần phải sử dụng máy tim phổi nhân tạo. Thật không may, phẫu thuật xâm lấn tối thiểu chỉ thích hợp cho bệnh nhân có bệnh động mạch vành dễ dàng thực hiện thao tác phẫu thuật.

Các biến chứng quan trọng nhất là gì?

Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành là một phẫu thuật lớn, và bệnh nhân thường phải mất nhiều tuần hoặc nhiều tháng sau khi phẫu thuật mới có thể hồi phục được. Bệnh nhân thường có biểu hiện kém ăn, suy nhược, và đau ở vết mổ trong vài tuần. Trầm cảm xuất hiện ở 1/3 bệnh nhân sau phẫu thuật, nếu không được phát hiện và điều trị sớm, trầm cảm sẽ mất một thời gian rất lâu mới hồi phục được.

Biến chứng khác có thể có sau phẫu thuật bắc cầu bao gồm nhồi máu cơ tim trong hoặc ngay sau khi phẫu thuật (ít hơn 5% bệnh nhân), sự suy yếu cơ tim (thường là tạm thời), rối loạn nhịp tim (rung nhĩ đặc biệt), tràn dịch màng phổi (tích tụ dịch giữa phổi và thành ngực), nhiễm trùng vết mổ và rối loạn trị giác.

Bởi vì phẫu thuật mang lại nhiều biến chứng nguy hiểm như vậy, nên nó thường chỉ dành cho những bệnh nhân có thể kéo dài cuộc sống đáng kể sau phẫu thuật, hoặc những người có triệu chứng đau thắt ngực kéo dài không thể nào thuyên giảm bằng phương pháp sử dụng thuốc.

Bạn có thể quan tâm đến chủ đề:

Chia sẻ thông tin hữu ích này cho mọi người trên:

Ngày đăng: Tháng Một 7, 2016 | Lần cập nhật cuối: Tháng Ba 9, 2018

Nguồn tham khảo
Bài có nhiều người đọc